Tập trung nguồn lực phát triển hạ tầng thủy lợi đồng bộ, hiện đại

07:13, 03/01/2026

Trước tác động ngày càng tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng, xu hướng phát triển bền vững, hợp tác và cạnh tranh nguồn nước, tiến bộ khoa học- công nghệ và nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội… đòi hỏi hạ tầng thủy lợi (TL) của tỉnh phải được đầu tư phát triển đồng bộ, hiện đại hóa nhằm đáp ứng nhu cầu bảo đảm an ninh lương thực, cấp nước công nghiệp, đô thị và dân sinh.

Hạ tầng hồ chứa nước ngọt Láng Thé. Ảnh: BÁ THI
Hạ tầng hồ chứa nước ngọt Láng Thé. Ảnh: BÁ THI

Nhu cầu bức thiết

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong thời gian qua, từ nguồn vốn của Trung ương hỗ trợ, của địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác, lĩnh vực TL của 3 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre trước đây và tỉnh Vĩnh Long hiện nay được đầu tư lớn. Trong giai đoạn 2016-2020, tổng vốn huy động đầu tư cho phát triển hạ tầng TL và phòng, chống thiên tai là 7.208 tỷ đồng và trong giai đoạn 2021-2025 là 14.908 tỷ đồng để thực hiện 264 công trình, dự án TL quy mô vừa và lớn.

Hiện hệ thống TL của tỉnh có số lượng rất lớn, với 9.797 công trình cống (trong đó có 646 cống đầu mối), 10.193 tuyến kênh các loại (dài 13.164,5km), 683 tuyến bờ bao (dài 4.651,4km), 3 hồ nước ngọt dung tích 1.141,8m³, 160,12km đê biển (trong đó: đê biển thuộc tỉnh Bến Tre cũ là 82,54km và tỉnh Trà Vinh cũ là 77,58km).

Hệ thống TL trên địa bàn tỉnh kết hợp với hệ thống giao thông bộ từng bước được hoàn thiện bảo đảm tưới, tiêu chủ động cho các vùng trồng lúa 2 vụ, 3 vụ, một số vùng trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây hàng năm khác, các vùng trồng cây ăn trái và cây công nghiệp lâu năm, nuôi trồng thủy sản tập trung; chủ động phòng, chống lũ, triều cường, thiếu nước, xâm nhập mặn và ứng phó với BĐKH, nước biển dâng.

Đầu tư phát triển TL vừa qua còn phân tán, thiếu đồng bộ giữa đầu tư TL đầu mối và TL nội đồng; nhiều công trình đã xuống cấp chưa được tu sửa, nâng cấp kịp thời, dẫn đến giảm hiệu quả khai thác, sử dụng chưa cao, tỷ lệ cơ giới hóa và tự động hóa còn hạn chế.

Hệ thống TL hiện tại chỉ mới đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp đơn giản, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Bên cạnh đó, bộ máy tổ chức quản lý khai thác công trình TL của tỉnh chưa theo quy định của pháp luật TL hiện hành, hoạt động còn khó khăn...

Các công trình thủy lợi giúp kiểm soát xâm nhập mặn, trữ nước ngọt, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Thảo Ly
Các công trình thủy lợi giúp kiểm soát xâm nhập mặn, trữ nước ngọt, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Thảo Ly

Ngoài ra, bối cảnh trong nước và thế giới hiện tại và tương lai còn nảy sinh những vấn đề mới buộc tỉnh ta cần phải đầu tư phát triển hạ tầng TL đồng bộ, hiện đại. Đó là: BĐKH, nước biển dâng; xu hướng phát triển bền vững; hợp tác và cạnh tranh nguồn nước và tiến bộ khoa học- công nghệ.

Theo cơ quan của Liên Hiệp Quốc IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH), mực nước biển có thể dâng 20-30cm vào năm 2050, làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn, ngập lụt tại các vùng đồng bằng ven biển, đặc biệt là ĐBSCL.

Xu hướng phát triển bền vững buộc các quốc gia đẩy mạnh kinh tế xanh, nông nghiệp thông minh, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước, ứng dụng công nghệ số trong quản lý TL.

Hợp tác và cạnh tranh nguồn nước đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, nhiều con sông quốc tế (như sông Mekong) chịu tác động bởi khai thác thượng nguồn, thủy điện, biến đổi dòng chảy, đòi hỏi Việt Nam tăng cường hợp tác quốc tế để bảo đảm an ninh nguồn nước. Ngoài ra, sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học- công nghệ (như tự động hóa, AI, GIS, dự báo khí tượng thủy văn tiên tiến…) mở ra cơ hội hiện đại hóa hệ thống quản lý và vận hành công trình TL.

Trong khi đó, ở trong nước, nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.

Điều này đòi hỏi hạ tầng TL phải đáp ứng nhu cầu bảo đảm an ninh lương thực, cấp nước công nghiệp, đô thị và dân sinh trong điều kiện nước ta chịu nhiều thách thức của thiên tai diễn biến phức tạp, đe dọa sản xuất và đời sống dân cư nhưng nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng TL còn hạn chế, cần huy động nguồn vốn xã hội hóa, vốn hỗ trợ nước ngoài ODA và hợp tác công tư (PPP).

Định hướng phát triển

Phát triển hạ tầng TL của tỉnh trước đây (ở 3 tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh cũ) trong giai đoạn dài hạn được xác định tại Quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch xây dựng TL, quy hoạch các tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 hay Đề án hiện đại hóa hệ thống TL phục vụ chuyển đổi, phát triển nông nghiệp bền vững tại các tiểu vùng sinh thái của các tỉnh giai đoạn năm 2021-2050…

Theo các văn bản nêu trên, từng bước đầu tư đồng bộ, hiện đại hóa hệ thống công trình TL trên địa bàn tỉnh để làm cơ sở cơ cấu lại nông nghiệp của tỉnh theo hướng phát triển bền vững, trên cơ sở tôn trọng quy luật tự nhiên, lựa chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thân thiện với môi trường và phát triển bền vững phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Hiện đại hóa hệ thống TL cả về công trình và phi công trình, hoàn thiện hệ thống TL, kết hợp với hiện đại hóa công tác quản lý, ứng dụng công nghệ trong theo dõi, vận hành nhằm phát huy hiệu quả công trình, đảm bảo phục vụ các đối tượng sử dụng nước.

Giai đoạn 2026-2030, tổng nguồn vốn dự kiến đầu tư phát triển TL là 36.437 tỷ đồng thực hiện 50 dự án lớn, trọng điểm ngành nông nghiệp (chủ yếu là các dự án TL), gồm 38 dự án triển khai trong giai đoạn 2026-2030 có tổng vốn đầu tư khoảng 30.572 tỷ và 12 dự án dự kiến khởi công mới trong năm 2026 với tổng vốn đầu tư khoảng 5.865 tỷ đồng.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030: Phát triển hệ thống TL đồng bộ, từng bước hiện đại, thông minh, bảo đảm chủ động đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp đa dạng, bền vững và phục vụ dân sinh trong điều kiện nguồn nước không xuất hiện tình trạng cực đoan.

Đến năm 2050: hoàn thiện hệ thống TL theo hướng hiện đại, thông minh bảo đảm chủ động phục vụ chuyển đổi, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và dân sinh, từng bước tự động hóa trong vận hành, có kết nối với phát triển của hệ thống TL, giao thông trong khu vực để chủ động phục vụ phòng, chống thiên tai, thích ứng và ứng phó với BĐKH.

Giải pháp trước mắt là sắp xếp tổ chức, bộ máy quản lý, khai thác công trình TL trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật TL hiện hành. Bước kế tiếp là tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng TL theo hướng kết hợp đồng bộ giữa công trình TL đầu mối và TL nội đồng, đồng bộ với hạ tầng kinh tế khác.

Nhiều công trình, dự án TL trọng điểm nhằm tạo động lực cho phát triển nông nghiệp- nông thôn và phòng, chống thiên tai, ứng phó với BĐKH, nước biển dâng được ngành nông nghiệp và môi trường đề xuất đầu tư trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2026-2030 và đến năm 2045.

Ngành nông nghiệp và môi trường dự tính đến năm 2035, hệ thống TL sẽ cấp nước tưới chủ động cho từ 2 vụ lúa trở lên với tần suất đảm bảo 95%, đối với các vùng khó khăn về nguồn nước và giải pháp TL ven biển bảo đảm 75-85%, 90% diện tích cây trồng cạn, 95% diện tích rau màu, cây ăn trái và cây công nghiệp lâu năm, khoảng 24 triệu con gia súc, gia cầm; cấp nước và thoát nước chủ động cho 72.000ha nuôi trồng thủy sản tập trung.

Bảo đảm tiêu, thoát nước qua công trình TL cho khoảng 480.000ha đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Cấp đủ nước phục vụ sinh hoạt; cấp và tạo nguồn cấp nước cho nông thôn, đô thị, công nghiệp, khu kinh tế...; đáp ứng nhu cầu nước cho hoạt động kinh tế ven biển...

Tỉnh còn chú trọng thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý, vận hành công trình, như: đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản lý, khai thác công trình TL từ cấp tỉnh đến tận cơ sở; xây dựng kế hoạch sử dụng nước, giám sát, dự báo chất lượng nước trong các hệ thống công trình TL.

Hiện đại hóa hệ thống quan trắc, lắp đặt hệ thống quan trắc khí tượng, thủy văn chuyên dùng phục vụ quản lý, khai thác và vận hành công trình... Ngoài ra còn xây dựng hệ thống giám sát vận hành công trình, từng bước tiến tới tự động hóa trong vận hành công trình, hệ thống.

TRUNG CHÁNH
 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh