Leng keng vó ngựa trời nam

20:13, 15/02/2026

Ở nhiều vùng quê Nam Bộ, con ngựa từng là hình ảnh quen thuộc trong đời sống thường nhật. Ngựa kéo xe, ngựa chở hàng, ngựa đưa tin… đã từng gắn bó mật thiết với sinh hoạt của người dân, trước khi các phương tiện cơ giới xuất hiện. Ngày nay, nghề nuôi ngựa không còn phổ biến như trước, song ở Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tây Ninh, vẫn còn những gia đình bền bỉ giữ nghề- như giữ một phần ký ức của vùng đất.

Anh Huỳnh Văn Lào giữ nghề nuôi ngựa “vì mê, vì mang ơn”.
Anh Huỳnh Văn Lào giữ nghề nuôi ngựa “vì mê, vì mang ơn”.

Bền bỉ giữ nghề nuôi ngựa

Trong lịch sử, ngựa không chỉ là phương tiện mưu sinh mà còn gắn với các hoạt động trọng yếu của quốc gia. Dưới thời nhà Nguyễn, ngựa giữ vai trò đặc biệt trong hệ thống truyền tin- dịch mã. Những con tuấn mã khỏe mạnh, sức bền cao được tuyển chọn để chạy liên tục giữa các dịch trạm, truyền công văn, mệnh lệnh đi khắp các trấn thành. Trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi lại, quân Gia Định có đầy đủ các binh chủng, trong đó mã binh sử dụng ngựa cho việc tuần phòng, truyền lệnh và ứng chiến. Để duy trì lực lượng này, nghề nuôi ngựa ở Nam Bộ sớm hình thành và phát triển.

Khi người Pháp đặt chân đến Đông Dương, hình ảnh con ngựa tiếp tục bước sang một vai trò khác. Các trường đua ra đời như một hình thức giải trí cuối tuần, kéo theo nhu cầu lớn về ngựa đua. Nhiều vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi như Đức Hòa, Mỹ Hạnh từng trở thành những “thủ phủ” nuôi ngựa, cung cấp nguồn ngựa lớn cho trường đua Phú Thọ.

Anh Trần Thành Hưng (ấp Hậu Hòa, xã Mỹ Hạnh, tỉnh Tây Ninh) nhớ lại: “Ở trường đua Phú Thọ có 2 con ngựa được mua từ Anh về, vậy là bà con thay nhau cho ngựa đến để phối. Nhờ vậy, ngựa ở đây ngày càng khỏe, thích nghi tốt và mang đặc điểm của ngựa lai. Nên hơn 70% ngựa ở trường đua khi đó là do Đức Hòa, Mỹ Hạnh cung cấp”.

Trong bối cảnh đó, nghề nuôi ngựa không chỉ là sinh kế mà còn trở thành truyền thống của nhiều gia đình. Anh Huỳnh Văn Lào (ấp Hậu Hòa, xã Mỹ Hạnh), sinh ra và lớn lên trong một gia đình 3 đời nuôi ngựa. Anh kể: “Có thời điểm ở địa phương, cứ 10 hộ dân thì đã có tới 5 hộ nuôi ngựa. Ngựa hiện diện trong sân nhà, trong cả những câu chuyện mưu sinh của nhiều gia đình”.

Trải qua nhiều thăng trầm, đến nay gia đình anh Lào vẫn duy trì nghề nuôi ngựa với quy mô lớn.

Với anh Lào, điều khiến anh tiếp tục gắn bó với nghề không chỉ là giá trị kinh tế. Đó là niềm đam mê và cảm giác biết ơn. Những con ngựa đã giúp gia đình anh vượt qua nhiều giai đoạn khó khăn, nuôi sống nhiều thế hệ. “Hồi xưa bán 1 con ngựa có thể mua được 20 cây vàng. Nó đãi mình nhiều quá”, anh nói, và chính sự “đãi ngộ” đó khiến anh không thể rời nghề.

 Những chú ngựa được chăm sóc chu đáo, đảm bảo có sức khỏe tốt.
Những chú ngựa được chăm sóc chu đáo, đảm bảo có sức khỏe tốt.

Hiện đàn ngựa của anh Lào có 16 con- con số hiếm đối với một hộ nuôi cá nhân. Trước đây, anh từng nuôi ngựa đua, với chế độ chăm sóc khắt khe từ ăn uống, nghỉ ngơi đến tập luyện. Thành tích của con ngựa trên đường đua là thước đo cho cả quá trình chăm sóc của người nuôi.

Khi các trường đua ngưng hoạt động, nhiều hộ buộc phải bỏ nghề, riêng gia đình anh chọn ở lại, chuyển sang nuôi ngựa sinh sản.

Theo anh Lào, ngựa mang thai khoảng 10-12 tháng, vòng đời trung bình gần 20 năm. Trong đàn hiện có cả ngựa thuần và ngựa lai nhập ngoại.

“Hồi xưa đua thì mình đặt tên để mình kêu cho dễ, còn những bạn này là ngựa nhập, được đặt tên trước rồi là Thanh Ngọc, Hà Phương”. Riêng những con nuôi từ nhỏ anh không đặt tên, bởi chỉ cần quen mặt là chúng tự tìm đến. “Mỗi con ngựa đều là một thành viên trong gia đình, chăm sóc tụi nó đã trở thành niềm vui mỗi ngày rồi”.

Giữ nghề nuôi ngựa, với anh Lào, cũng là cách giữ lại những giá trị từng làm nên danh tiếng cho vùng đất Mỹ Hạnh- Đức Hòa, nơi một thời được xem là cái nôi của nghề nuôi ngựa ở Nam Bộ.

Nhịp điệu xe thổ mộ trên đường làng

Nếu như ở Tây Ninh, ngựa gắn với ký ức trường đua, thì tại Vĩnh Long, hình ảnh con ngựa lại gắn liền với xe thổ mộ trên những con đường làng. Khi phương tiện cơ giới dần thay thế, vai trò vận chuyển hàng hóa của xe ngựa không còn như trước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của du lịch, xe ngựa lại được hồi sinh trong một diện mạo mới.

Hình ảnh những chú ngựa như một phần hồn quê giữa dòng chảy hiện đại.
Hình ảnh những chú ngựa như một phần hồn quê giữa dòng chảy hiện đại.

Là thế hệ thứ 5 trong gia đình gắn bó với nghề nuôi ngựa kéo xe tại các xã: Giao Long, Phú Túc, chị Trần Thị Bích Ngân cho hay từ thời ông bà, xe ngựa chủ yếu dùng để thồ lúa, chở trái cây, vận chuyển hàng hóa giúp bà con. Khi du lịch phát triển, gia đình chị chuyển sang chở khách và gắn bó với công việc này gần 17 năm.

Từng ấy thời gian, giúp chị Ngân hiểu rõ từng thói quen của những con ngựa mình nuôi. Đó là giống ngựa lai, vóc dáng nhỏ nhưng bền bỉ, thích hợp với đường làng nhỏ hẹp và thời tiết nắng mưa miền Tây. Mỗi buổi sáng, ngựa được tắm rửa kỹ lưỡng để làm mát cơ thể, phòng bệnh ngoài da và chuẩn bị cho một ngày làm việc.

Mỗi con ngựa đều có tên, có cá tính riêng. Con ngựa gắn bó lâu năm với chị Ngân tên là Đạm. “Con ngựa của tôi thấy thương lắm. Ví dụ như nó hay chứng, vì nó biết mình thương nó nên nó hay đòi hỏi ăn cỏ này cỏ kia. Rồi nó không nghe lời, mình muốn nó đi đường này thì nó đi đường khác, rồi làm eo làm sách, làm nủng làm nỉu…”- chị Bích Ngân vui vẻ cho hay.

Cùng làm nghề với chị Ngân, chị Trần Thị Kim Loan xem đánh xe ngựa là công việc phù hợp với nhịp sống gia đình. Chị nói: “Mình có con nhỏ có thể tranh thủ buổi sáng đưa con đi học, rồi ra bến xe ngựa làm việc vài tiếng, chiều về đón con. Công việc không quá nặng nhọc, người lớn tuổi vẫn có thể theo nghề”. Niềm vui của chị đôi khi rất giản dị “chỉ cần nghe du khách khen con ngựa hiền, khỏe là mình thấy vui liền”.

Có thời điểm, khu vực Giao Long- Phú Túc có tới 3 đội ngựa với hơn 40 cá thể. Nhưng sau năm 2020, vì nhiều nguyên nhân, số lượng ngựa giảm mạnh, chỉ còn lại một đội với khoảng 10 con. Dù vậy, những người còn trụ lại vẫn xem ngựa là “cần câu cơm” và là tài sản quý giá của gia đình.

Anh Huỳnh Văn Tuấn, người trực tiếp điều khiển xe ngựa, cho biết để xe vận hành an toàn cần nhiều bộ phận phối hợp: yên lưng, nịt bụng và bộ bao tá cho ngựa. “Mắt con ngựa có tầm nhìn tới 360 độ, mắt nằm bên hông, mắt nhìn ra sau được, nên mình phải che mắt nó để nó nhìn về phía trước. Thức ăn của ngựa chủ yếu là cỏ, cám, lúa, khi có điều kiện, mình mua thêm chuối để bồi dưỡng sức cho nó”- anh Tuấn cho biết thêm.

Không chỉ phục vụ sinh sản hay kéo xe, một số người lại nuôi ngựa như thú cưng. Tại Đồng Tháp, anh Nguyễn Trọng Hiếu đưa những cá thể ngựa bạch tạng Mông Cổ (giống ngựa quý hiếm, đắt đỏ) về trang trại nuôi dưỡng. Và người trực tiếp chăm sóc những chú ngựa này là anh Bạch Thanh Tùng.

Anh Bạch Thanh Tùng đang cho những chú bạch mã Mông Cổ ăn.
Anh Bạch Thanh Tùng đang cho những chú bạch mã Mông Cổ ăn.

“Em cũng không có đam mê đâu, ban đầu ông chủ gửi video kêu em chăm sóc, vậy mà cưng 2 năm rồi. Giờ mình thương nó, nó cũng mến mình. Chỉ cần nghe tiếng xe của em từ xa là nó mừng, nó hí dữ lắm. Còn em hễ ngày nào có việc phải xin nghỉ, lòng cũng thấy bồn chồn”- anh Thanh Tùng cho hay.

Từ binh mã truyền tin, ngựa đua, xe thổ mộ đến thú cảnh, những chú ngựa đã thay đổi vai trò theo từng giai đoạn. Để rồi ở đâu đó giữa làng quê tiếng lục lạc xe ngựa vẫn leng keng chậm rãi. Như thanh âm của nghề xưa chưa tắt, cùng những con người bền bỉ giữ lấy con ngựa như giữ một phần hồn quê giữa dòng chảy hiện đại.

Bài, ảnh: NGỌC LIỄU

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh