Với chủ đề “Những dòng sông kể chuyện: Mối tương quan giữa dòng sông và đời sống của người dân Mekong”, trong “Phiên chợ xanh”- Công ty CP Đầu tư Du lịch và Giáo dục VinaEcolife tổ chức vừa qua, GS Chung Hoàng Chương dẫn chúng tôi đi dọc hành trình hơn 4.000km của sông Mekong, từ thượng nguồn đến vùng hạ lưu ĐBSCL.
Từ câu chuyện gió mùa, phù sa đến 9 nhánh Cửu Long còn 7… Giữ được dòng sông không chỉ là giữ nguồn nước, mà còn là giữ văn hóa, sinh kế và khả năng sống còn của cả một vùng đất.
![]() |
| Sông Mekong là ranh giới tự nhiên giữa Lào và bên kia sông là Thái Lan. |
Dòng chảy văn hóa… và ký ức cộng đồng
Nói về sông Mekong, GS Chung Hoàng Chương nhấn mạnh tính “xuyên biên giới” của nước. Từ thượng nguồn cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc), trở thành biên giới tự nhiên giữa Lào- Thái Lan, lướt qua Myanmar một đoạn, xuống Campuchia; vào đến Tonlé Sap thì mực nước dâng rất đặc biệt, rồi dòng chảy đảo chiều, xuyên qua vùng Tứ giác Long Xuyên trước khi tỏa về sông Tiền- sông Hậu.
Phía thượng nguồn, ở Vân Nam- nơi Mekong song hành cùng Trường Giang và Nộ Giang; khi băng tan, nước kéo theo sỏi đá, phù sa đi suốt 4.500km để về đến đồng bằng. Trên hành trình ấy, các lớp văn hóa chồng lên nhau.
Các cao nguyên với nhiều tộc người như người Bạch, Mosuo, Nạp Tây, Dao, H’Mông… tạo thành “bức tranh văn hóa rực rỡ” dọc theo con sông.
Một thông tin thú vị được minh họa bằng các đoạn clip cho chúng tôi xem, Mekong là hệ sinh thái sông đứng thứ hai thế giới về đa dạng sinh học, chỉ sau Amazon.
Sự đa dạng ấy không tồn tại như một thống kê khô cứng; nó hiện hình bằng chim cò, mùa nước nổi, cá tôm và bằng cách con người “điều chỉnh đời sống” theo nhịp nước.
Giáo sư kể về những đàn chim, đàn cò từng “ngày nào cũng thấy” bay về ruộng Tam Nông (Đồng Tháp), nhưng “bây giờ thì cũng bớt đi rất nhiều”. Về những người đánh bắt cá “hồi xưa, một ngày có thể đánh bắt được khoảng 40kg cá, còn bây giờ chỉ còn khoảng 8, 9kg thôi.”
Theo GS Chung Hoàng Chương, “văn hóa nước là thứ mỗi ngày chúng ta đang sống trong đó nhưng ít khi nhận ra”. Văn hóa ấy kết tinh từ những hình ảnh tưởng như rất đời thường: phụ nữ lấy nước, dùng nước trong sinh hoạt, nuôi dạy con cái, trong lễ nghi; áo bà ba, nón lá, xuồng ghe, cầu tre… tất cả tạo nên không gian sông nước miền Tây.
Nhưng chính vì đời thường, nên văn hóa nước dễ bị xem là “có sẵn” và khó nhận diện mất mát, cho đến khi các chợ nổi thưa vắng, ghe thuyền ít dần, giao thông chuyển lên bờ.
Một trong những đoạn giàu chất “ghi nhận” của buổi chia sẻ là khi GS Chương kể về hệ thống kênh rạch- di sản vừa kỹ thuật vừa văn hóa của đồng bằng.
Ông nhắc đến kênh Xáng Xà No, được đào trong giai đoạn 1900-1903 chỉ trong 3 năm, phát huy hiệu quả lớn nhờ kỹ thuật thời bấy giờ. Những tuyến kênh đào đã trở thành “nguồn đặc biệt để vận chuyển lúa gạo”, và giao thông đường thủy “ít gây ô nhiễm hơn” so với đường bộ.
Đáng quý hơn, là cách người dân tận dụng sức gió, sức thủy triều; tính toán quãng 60km giữa các đô thị dọc sông Hậu sao cho “vừa cạn bình xăng thì cũng vừa tới bến”- một kiểu “khoa học thực hành” của cư dân sông nước.
Những trăn trở cùng dòng sông
Theo GS Chương, khi về đến hạ lưu, sông Mekong chia nhánh thành Cửu Long- 9 nhánh. Nhưng “hiện nay chỉ còn 7 nhánh”. Việc xây dựng hàng loạt đập thủy điện trên dòng Mekong là một dạng can thiệp sâu làm đảo lộn quy luật tự nhiên đã hình thành qua hàng ngàn năm.
Các con đập không chỉ điều tiết dòng nước mà còn giữ lại phù sa, phá vỡ chu kỳ lũ- cạn, làm suy giảm khả năng tự phục hồi của dòng sông, kéo theo những biến đổi khó đảo ngược cho toàn lưu vực.
Tác động đó thể hiện rõ nhất ở hạ lưu, đặc biệt là ĐBSCL. Theo GS Chương, đập thủy điện “không chỉ giữ nước mà còn giữ lại sự sống”: đường di cư của cá bị chặn, đa dạng sinh học suy giảm, sinh kế của các cộng đồng sống dựa vào sông nước bị tổn thương nghiêm trọng. Ông nhấn mạnh thực trạng đáng lo ngại hiện nay bằng một câu nói ngắn gọn nhưng ám ảnh: “Đất cũng mệt, nước cũng mệt”.
Từ đó, GS Chương kêu gọi cần nhìn xa hơn lợi ích kinh tế trước mắt, chuyển sang cách tiếp cận “thuận thiên”, kết hợp khoa học hiện đại với tri thức bản địa, đồng thời thúc đẩy hợp tác liên quốc gia để quản trị dòng Mekong một cách bền vững.
Hệ sinh thái từng ghi nhận khoảng 800 loài cá, nay “đã mất đi rất nhiều”; xâm nhập mặn gia tăng là thách thức lớn. GS Chương cũng nhắc những tổn thương mới của dòng sông: nhiều vùng rừng ngập nước không còn chịu đựng nổi vì rác thải, chất độc hại.
Ông cho biết nhóm của mình cộng tác với các chương trình kinh tế tuần hoàn, cùng các giải pháp dựa vào thiên nhiên (nature-based solutions) để tìm phương thức phù hợp cho đồng bằng.
![]() |
GS Chung Hoàng Chương là nghiên cứu viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu quốc tế thuộc ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Ông cũng là chuyên gia thuộc tổ chức phi chính phủ International Rivers và từng giảng dạy tại Khoa Á Mỹ học, ĐH tiểu bang San Francisco, Mỹ. Ông là một chuyên gia nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là văn hóa sông nước Mekong, gần 20 năm tâm huyết tìm hiểu dòng sông này.
“Tương lai đồng bằng phụ thuộc rất lớn vào con người; chính con người quyết định việc đa dạng hóa sinh kế, phát triển mô hình dựa vào thiên nhiên và hoàn thiện chính sách để các sáng kiến không chỉ dừng ở thí điểm mà có thể nhân rộng” - GS Chung Hoàng Chương.
Trong hành trình xuôi dòng Mekong này, với chúng tôi không chỉ là một cuộc “du ký học thuật”, mà còn là lời nhắc rằng dòng sông luôn kể chuyện- bằng cách nước dâng ở Biển Hồ, bằng phù sa tích tụ làm nên đồng bằng “trẻ” ĐBSCL khoảng 10.000 năm, bằng những nhánh sông mất đi, bằng chợ nổi thưa dần và bằng những cộng đồng đang chật vật khi nguồn tài nguyên sụt giảm.
Bài, ảnh: CAO HUYỀN




Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin