Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ, logistics và các ngành kinh tế mới.
Tuy nhiên, để những lợi thế này thực sự chuyển hóa thành động lực tăng trưởng, khu vực kinh tế tư nhân cần được tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, nhân lực và thị trường; doanh nghiệp (DN) phải nâng cao năng lực để “lớn lên” và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
![]() |
| Đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Vòng đối thoại địa phương - Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (VPSF 2026)- Phiên đối thoại tỉnh Vĩnh Long, ngày 2/10. |
Tận dụng lợi thế
Sau hợp nhất, không gian phát triển của tỉnh được mở rộng, tạo thêm dư địa để tổ chức lại sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu, phát triển công nghiệp chế biến, logistics, năng lượng và kinh tế biển.
Đặc biệt, thế mạnh về trái cây, dừa, lúa gạo, thủy sản cùng hệ thống DN, hợp tác xã và cơ sở sản xuất là nguồn lực quan trọng để địa phương xây dựng những chuỗi giá trị có quy mô lớn hơn. Tuy nhiên, lợi thế về tài nguyên và sản lượng chưa đồng nghĩa với lợi thế cạnh tranh.
Nếu sản xuất vẫn phân tán, nguyên liệu đi qua nhiều tầng nấc trung gian, chế biến sâu còn hạn chế và liên kết với thị trường chưa chặt chẽ, giá trị tạo ra tại địa phương sẽ khó tương xứng với tiềm năng. Bài toán đặt ra không chỉ là sản xuất nhiều hơn, mà phải tổ chức lại chuỗi giá trị, kết nối chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, DN chế biến và thị trường.
Theo ông Trầm Minh Thuần - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp Long Hiệp, hợp tác xã có vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất theo chuỗi, tập hợp nông dân sản xuất quy mô lớn, áp dụng đồng bộ kỹ thuật và tạo nguồn nguyên liệu đủ về sản lượng, bảo đảm về chất lượng cho DN chế biến, xuất khẩu.
Hợp tác xã là cầu nối giúp thành viên tiếp cận tín dụng, vật tư, công nghệ và thị trường. Tuy nhiên, nhiều hợp tác xã hiện vẫn có quy mô nhỏ, vốn ít, năng lực quản trị hạn chế và gặp khó trong tiếp cận tín dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật.
Không chỉ tổ chức lại sản xuất, yêu cầu lớn hơn là chuyển từ khai thác lợi thế sẵn có sang tạo ra giá trị mới. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng ưu tiên công nghệ, dữ liệu, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị, nguồn nguyên liệu dồi dào hay lao động giá thấp sẽ không còn là ưu thế đủ mạnh. DN phải chuyển dần từ bán nguyên liệu, sản phẩm sang chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và nâng cao giá trị trong từng mắt xích của chuỗi.
Ông Phan Tấn Đạt - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cho rằng, với thế mạnh về trái cây, dừa, lúa gạo, thủy sản, làng nghề và sản phẩm đặc trưng, tỉnh cần tập trung nâng tầm giá trị sản phẩm thông qua chế biến sâu, chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Phát triển logistics, kho lạnh, kết nối liên vùng và hạ tầng số để giảm chi phí, đưa vùng nguyên liệu đến gần hơn với DN chế biến và thị trường.
Một vấn đề đáng quan tâm của kinh tế tư nhân hiện nay là DN không chỉ cần được tạo điều kiện để gia nhập thị trường, mà còn phải có khả năng “lớn lên”. Theo ông Nguyễn Phương Lam - Giám đốc VCCI Chi nhánh ĐBSCL, sau hợp nhất, Vĩnh Long có khoảng 12.000-13.000 DN đang hoạt động và đặt mục tiêu đạt khoảng 20.000 DN vào năm 2030. Khoảng cách này không chỉ đặt ra yêu cầu tăng số lượng DN mà quan trọng hơn là nâng chất lượng, quy mô và sức cạnh tranh của khu vực tư nhân.
Ông Nguyễn Phương Lam lưu ý hiện tượng “missing middle”- thiếu vắng phân khúc DN quy mô vừa. Thực tế cho thấy tỷ lệ DN siêu nhỏ chuyển lên quy mô nhỏ có cải thiện, nhưng số DN nhỏ phát triển lên quy mô vừa còn hạn chế. Vĩnh Long cần “khám sức khỏe” thực chất khu vực kinh tế tư nhân, tìm rõ nguyên nhân DN rút khỏi thị trường hoặc “mắc kẹt” ở quy mô nhỏ, từ đó có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm DN.
“DN nhỏ cần được hỗ trợ tốt hơn trong tiếp cận vốn và đất đai; trong khi DN vừa cần thị trường, logistics và liên kết chuỗi. Cùng với đó, cần chuẩn hóa dữ liệu DN để nhận diện đúng nhu cầu, từ đó thiết kế chính sách sát thực tế hơn. Bản thân DN cũng phải xây dựng năng lực và lộ trình phát triển rõ ràng, chủ động thích ứng với công nghệ, thị trường và môi trường pháp lý thay vì tiếp tục vận hành chủ yếu dựa trên kinh nghiệm”- ông Lam cho biết.
Kết nối nguồn lực
Cùng với các nguồn lực hữu hình, điều DN cần còn là một môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo. Chi phí của thủ tục kéo dài không chỉ nằm ở thời gian hoàn thành một hồ sơ, mà còn có thể làm chậm kế hoạch đầu tư, tăng chi phí và khiến DN bỏ lỡ cơ hội thị trường. Trong khi đó, hoạt động kinh doanh và công nghệ thay đổi nhanh, đặt ra yêu cầu chính sách cũng phải theo sát thực tiễn hơn.
Bà Ngô Tường Vy - đại diện Hội Doanh nhân trẻ tỉnh cho rằng, hoạt động kinh doanh thực tế luôn vận động rất nhanh, trong khi một số quy định về thuế, vốn, đất đai, quy hoạch hay hạ tầng phục vụ người lao động đôi lúc chưa theo kịp nhu cầu của DN. Từ thực tế đó, bà đề xuất hình thành một “ngôi nhà chung” để các hội doanh nhân trẻ thường xuyên tiếp nhận, tổng hợp vướng mắc của DN, phối hợp với sở, ngành và chính quyền tìm giải pháp tháo gỡ.
![]() |
| Doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Trong ảnh: Công ty TNHH Công nghệ cao An Thành (xã Bình Phước) sử dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất máy đóng gói tự động. |
Ông Trương Đặng Vĩnh Phúc - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh cho biết, tỉnh đang triển khai nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện để DN tiếp cận đất đai, vốn, mặt bằng sản xuất, kinh doanh; đồng thời, tiếp tục huy động nguồn lực hoàn thiện hạ tầng và thực hiện chính sách phát triển, thu hút nhân lực. Tỉnh cũng sẽ tham vấn chuyên gia để có thêm giải pháp phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương và cộng đồng DN.
Bên cạnh sự hỗ trợ từ Nhà nước, cộng đồng DN cũng cần tăng cường liên kết để biến số lượng thành sức mạnh nội khối. Theo ông Phan Tấn Đạt - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, tỉnh có thể xây dựng cơ sở dữ liệu chung để kết nối DN chính xác hơn; tổ chức kết nối B2B dựa trên nhu cầu, đưa đúng người mua đến người bán; tập hợp nhu cầu của hội viên để giảm chi phí dịch vụ. Khi DN tìm được đối tác ngay trong hệ sinh thái địa phương, nguồn lực có thể được luân chuyển hiệu quả hơn và hình thành thêm chuỗi liên kết mới.
Phát biểu tại Vòng đối thoại địa phương - Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (VPSF 2026)- Phiên đối thoại tỉnh, ông Đặng Văn Chính - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh, quán triệt tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN, tỉnh xác định cộng đồng DN, doanh nhân là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Sự phát triển của DN không chỉ tạo việc làm, thu nhập, đóng góp ngân sách, mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và sức phát triển của nền kinh tế địa phương. Tỉnh đang tập trung xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ và hành động, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các rào cản và tạo điều kiện để DN tiếp cận đất đai, vốn, hạ tầng, khoa học, công nghệ và thị trường.
Sở, ngành và địa phương phải chủ động tiếp nhận, xử lý kiến nghị của DN đúng thẩm quyền, đúng thời gian. Với những vấn đề liên quan nhiều ngành, nhiều cấp, các cơ quan cần phối hợp thống nhất phương án xử lý, lấy hiệu quả công việc và sự thuận lợi của DN làm thước đo chất lượng phục vụ.
DN cần chủ động đổi mới tư duy, tiếp cận công nghệ mới, ứng dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và phát triển bền vững. Lãnh đạo tỉnh cam kết tiếp tục đồng hành, lắng nghe và tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc cho DN.
Bài, ảnh: THẢO TIÊN



