Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 20/4/2026, Quốc hội tiến hành thảo luận ở Tổ về: Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công.
Tham gia thảo luận tại Tổ số 12, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long quan tâm góp ý một số nội dung, cụ thể như sau:
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi phát biểu tại Tổ sáng ngày 20/4/2026. |
Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hoá Việt Nam:
Đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là định hướng có tầm nhìn chiến lược và ý nghĩa nhân văn sâu sắc với các mục tiêu quan trọng như tăng đầu tư cho văn hóa, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia về sức mạnh mềm.
Đại biểu cũng quan tâm đến nội dung lựa chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam và đề nghị cần được nghiên cứu, thể chế hóa phù hợp trong Nghị quyết gắn với cơ chế để người dân thực sự được tham gia và thụ hưởng các giá trị văn hóa.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, đại biểu góp ý một số nội dung trọng tâm sau:
Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1), đại biểu cơ bản thống nhất với đối tượng áp dụng được quy định tại khoản 2 Điều 1. Tuy nhiên, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, chỉnh lý lại cách diễn đạt để bảo đảm chặt chẽ, rõ ràng và logic hơn.
Thứ hai, về Ngày Văn hóa Việt Nam (Điều 2), đại biểu đề nghị thay thế cụm từ “khuyến khích Nhân dân, chủ yếu là thanh niên, thiếu niên” được quy định tại khoản 3 bằng cụm từ “khuyến khích Nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên”. Cách diễn đạt này sẽ bảo đảm đúng tinh thần khuyến khích toàn dân tham gia, đồng thời nhấn mạnh vai trò của thế hệ trẻ trong việc kế thừa và phát triển văn hóa.
Thứ ba, về cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa (Điều 4), đại biểu cho rằng nội dung quy định tại khoản 5 Điều 4 chưa thật sự phù hợp với phạm vi điều chỉnh của điều luật, bởi lẽ, Điều 4 tập trung quy định về cơ chế, chính sách nhằm thu hút nguồn lực đầu tư phát triển văn hóa; tuy nhiên, khoản 5 lại quy định việc UBND cấp xã được giao cho tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở và thực hiện kiểm tra, giám sát. Nội dung này mang tính tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động, không phải là cơ chế, chính sách thu hút đầu tư. Vì vậy, đại biểu đề nghị nên rà soát, bố trí lại nội dung này vào điều khoản phù hợp hơn, bảo đảm đúng phạm vi điều chỉnh và tính logic của dự thảo Nghị quyết.
Thứ tư, về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hoá (Điều 5), đại biểu nhận thấy có sự chưa thống nhất về thẩm quyền giữa các khoản trong cùng điều luật, cụ thể, tại khoản 3 dự thảo Nghị quyết quy định chính quyền địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí di sản văn hóa do Chính phủ quy định được quyết định các cơ chế chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn đối với hoạt động nhằm mục đích khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, khoản 5 lại quy định Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách đặc thù. Như vậy, giữa hai khoản trong cùng điều luật có sự chưa thống nhất về thẩm quyền, khi khoản 3 trao quyền cho chính quyền địa phương còn khoản 5 lại giao thẩm quyền này cho Chính phủ. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, xác định rõ thẩm quyền của từng cấp để quy định thống nhất, bảo đảm thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Thứ năm, về chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, thể thao (Điều 7), đại biểu cơ bản thống nhất và đánh giá cao các quy định của dự thảo Nghị quyết. Nội dung điều luật đã đề cập khá đầy đủ các chính sách ưu tiên phát triển tài năng như chế độ phụ cấp, ưu đãi nghề, cũng như chế độ bồi dưỡng trong luyện tập và biểu diễn. Tuy nhiên, đề nghị nghiên cứu bổ sung chính sách thu hút nguồn nhân lực trẻ tham gia vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nhất là các ngành mới như thiết kế, nội dung số. Qua đó, tạo nền tảng để thế hệ trẻ tham gia tích cực, góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.
Thứ sáu, về phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa, đại biểu đề nghị chú trọng xây dựng hệ sinh thái thị trường văn hóa lành mạnh, minh bạch; tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa xây dựng thương hiệu, vươn ra thị trường quốc tế. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát phù hợp nhằm bảo đảm phát triển đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế tình trạng thương mại hóa hoặc lai căng quá mức, qua đó góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và thúc đẩy sáng tạo các giá trị văn hóa mới.
![]() |
| Đại biểu Quốc hội các tỉnh Điện Biên, Hà Tĩnh và Vĩnh Long tại buổi thảo luận Tổ số 12. |
Đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công:
Đại biểu thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 23-KL/TW ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án “Nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay”. Thực tiễn hiện nay cho thấy số lượng các vụ án hành chính ngày càng gia tăng, trong khi tỷ lệ giải quyết còn hạn chế, nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, việc triệu tập người bị kiện tham gia tố tụng còn gặp khó khăn. Bên cạnh đó, tỷ lệ án hành chính bị hủy, sửa vẫn ở mức cao, phản ánh những hạn chế trong kiểm soát tính hợp pháp của quyết định hành chính trước khi ban hành, cũng như trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Ngoài ra, tình hình khiếu nại, tố cáo, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, diễn biến phức tạp gây áp lực lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền. Do đó, việc hình thành đội ngũ luật sư công chuyên nghiệp là cần thiết nhằm tăng cường hỗ trợ pháp lý, tham mưu và tham gia giải quyết kịp thời, đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, đại biểu tham gia góp ý một số nội dung cụ thể của dự thảo Nghị quyết như sau:
Thứ nhất, về phạm vi công việc của luật sư công (Điều 7). Theo khoản 2 quy định phạm vi hoạt động của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động pháp chế của cơ quan, đơn vị. Đại biểu cho rằng đối với hoạt động trợ giúp pháp lý có thể không trùng lặp; tuy nhiên, đối với hoạt động pháp chế thì trên thực tế sẽ có sự giao thoa nhất định do đều liên quan đến tham mưu, xử lý các vấn đề pháp lý cho cơ quan, đơn vị. Vì vậy, đề nghị cần quy định, phân định rõ ràng phạm vi giữa luật sư công và công tác pháp chế để tránh chồng chéo, đặc biệt trong bối cảnh hai nhóm đối tượng này chịu sự điều chỉnh của các quy định và chế độ, chính sách khác nhau, có sự chênh lệch đáng kể.
Thứ hai, về chế độ, chính sách đối với luật sư công (Điều 10). Dự thảo Nghị quyết quy định ngoài chế độ theo Nghị quyết số 197/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, luật sư công khi tham gia giải quyết vụ việc có tính chất pháp lý được hưởng bồi dưỡng theo vụ việc, với mức 0,5 lần mức lương cơ sở cho mỗi buổi làm việc. Đại biểu cho rằng quy định này còn chưa thật sự rõ ràng, đồng thời đặt ra vấn đề về khả năng cân đối ngân sách và tính công bằng trong thực hiện. Bởi lẽ, các đối tượng này đã được hưởng đầy đủ chế độ tiền lương theo quy định, được hưởng chính sách theo Nghị quyết 197 nhưng vẫn được bồi dưỡng thêm theo vụ việc trong khi thực tế nếu đã được tuyển dụng theo vị trí việc làm là luật sư công thì có thể dành phần lớn thời gian để thực hiện các nhiệm vụ này, dẫn đến chi phí phát sinh đáng kể.
Bên cạnh đó, cần xem xét sự công bằng so với các đối tượng khác, cũng như việc các hoạt động tham gia tố tụng, tư vấn pháp lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo không thuộc nội dung theo Nghị quyết số 197/2025/QH15 nhưng lại áp dụng đồng thời các chế độ. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, xem xét kỹ quy định này nhằm bảo đảm khả năng cân đối ngân sách, đồng thời bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trong thực hiện.
Thứ ba, về tổ chức thực hiện (Điều 11). Theo khoản 1 quy định việc thu hút, trọng dụng nhân tài để tuyển dụng luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia vào làm việc tại cơ quan, tổ chức theo vị trí việc làm và thực hiện nhiệm vụ của luật sư công. Đại biểu đề nghị cần quy định rõ hơn về quy trình, tiêu chí tuyển chọn, đánh giá, cũng như cơ chế tiếp nhận đối với các đối tượng này. Đồng thời, cần làm rõ phương án xử lý sau khi kết thúc thí điểm, nhất là đối với trường hợp đã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí trong hệ thống cán bộ, công chức, viên chức hoặc lực lượng vũ trang nhằm bảo đảm tính ổn định và thống nhất trong quản lý nhân sự.
Thứ tư, về điều khoản thi hành (Điều 12). Dự thảo quy định thời gian thí điểm là 2 năm. Trên thực tế, sau khi Nghị quyết có hiệu lực, việc triển khai còn cần thời gian để đào tạo, bồi dưỡng hoặc tuyển dụng lực lượng từ bên ngoài vào khu vực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, có thể mất từ 6 tháng đến 1 năm thì đội ngũ này mới có thể đi vào hoạt động. Vì vậy, với thời gian thí điểm 2 năm, đại biểu băn khoăn liệu có đủ để đánh giá, tổng kết và xem xét nhân rộng mô hình trong thời gian tới hay không. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục cân nhắc về thời gian thí điểm nhằm bảo đảm có đủ cơ sở để đánh giá hiệu quả trong quá trình thực hiện.
Ngọc Mai



