Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi: Cần mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý

18:42, 09/04/2026

Sáng ngày 09/4/2026, tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội thảo luận tại Tổ đối với bốn nội dung gồm: Dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (TGPL); Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).

Tổ đại biểu số 12 do đại biểu Trần Văn Lâu - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội khóa XVI tỉnh Vĩnh Long chủ trì điều hành thảo luận Tổ.  

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, nhận định: Sau gần 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã mang lại nhiều kết quả tích cực, số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý rất lớn bao gồm cả tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng. Chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý ngày càng nâng lên. Từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý được bảo vệ, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công lý, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Vĩnh Long phát biểu tại phiên thảo luận Tổ sáng ngày 09/4.
Đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách tỉnh Vĩnh Long phát biểu tại phiên thảo luận Tổ sáng ngày 09/4.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi cho rằng quá trình triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 cũng đã bộc lộ những khó khăn, bất cập mà đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay.

Đại biểu cơ bản thống nhất với những nội dung sửa đổi, bổ sung được thể hiện trong Dự thảo Luật, đồng thời đề nghị tiếp tục nghiên cứu, làm rõ một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về người được trợ giúp pháp lý quy định tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017): Đại biểu thống nhất với việc mở rộng phạm vi “người được trợ giúp pháp lý” và loại bỏ tiêu chí “có khó khăn về tài chính”. Quy định này phù hợp với thực tiễn và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như Công ước về quyền con người, Công ước về quyền của người khuyết tật và Công ước CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, đều không đặt ra điều kiện tài chính, khẳng định quyền tiếp cận công lý là quyền đương nhiên, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế như phụ nữ là nạn nhân bạo lực gia đình. Đồng thời, quy định này đã cụ thể hóa Nghị quyết 27-NQ/TW, chuyển đổi tư duy từ “hỗ trợ người nghèo” sang “bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương”, lấy người được trợ giúp pháp lý làm trung tâm và bổ sung các đối tượng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, hỏa hoạn nhằm hỗ trợ họ ổn định cuộc sống, giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh.

Về nguồn lực, việc mở rộng đối tượng không gây áp lực lớn cho ngân sách nhà nước do các nhóm này chủ yếu cần tư vấn pháp luật, hướng dẫn chính sách và cung cấp thông tin, có thể đáp ứng từ nguồn lực sẵn có tại địa phương.

Như vậy, việc sửa đổi là hợp lý, vừa bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho người dân, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Quang cảnh buổi họp Tổ.
Quang cảnh buổi họp Tổ.

Thứ hai, về việc thành lập các chi nhánh trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tại khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 11 Luật TGPL 2017): Đại biểu hoàn toàn đồng tình với việc thành lập các chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và việc giao thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Đây là điều chỉnh cần thiết, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và chủ trương tăng cường phân cấp, phân quyền hiện nay. Việc giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, lựa chọn địa bàn đặt chi nhánh là hợp lý, thể hiện rõ phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tiễn, đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý tại cơ sở.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cụm từ “có thể có” trong quy định còn thiếu chặt chẽ, dễ dẫn đến áp dụng tùy nghi, không bảo đảm tính minh bạch và thống nhất. Trong bối cảnh hiện nay, sau khi sáp nhập, điều chỉnh đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, quy mô và phạm vi quản lý mở rộng, nhu cầu trợ giúp pháp lý tại cơ sở tăng cao.

Từ các phân tích nêu trên, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đề xuất diễn đạt lại khoản 2 Điều 11 theo hướng: “2. Việc thành lập chi nhánh thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước …” để quy định được rõ ràng, cụ thể hơn, tránh diễn đạt gây hạn chế trong triển khai thực tế.

Thứ ba, về nội dung tham gia tố tụng được quy định tại khoản 9 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung Điều 31 Luật TGPL 2017)

Đại biểu cơ bản thống nhất với nội dung sửa đổi, bổ sung khoản 2 của Điều 31 của dự thảo Luật: “Khi nhận được yêu cầu TGPL của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại là người được TGPL, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước tại địa phương theo quy định của pháp luật. Sau khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trung tâm TGPL nhà nước có trách nhiệm thụ lý vụ việc theo quy định của pháp luật và cử người thực hiện TGPL tham gia tố tụng”. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 về trách nhiệm thông báo cho Trung tâm TGPL nhà nước của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và trách nhiệm thụ lý vụ việc của Trung tâm TGPL nhà nước trong trường hợp người thuộc diện TGPL bị bắt, bị giam giữ, bị can, bị cáo, người bị hại. Việc kế thừa quy định này sẽ bảo đảm tính đầy đủ, chặt chẽ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tránh bỏ sót các tình huống phát sinh trên thực tế.

Thứ tư, về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại khoản 16 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 40 Luật TGPL 2017): Đại biểu cơ bản thống nhất với nội dung dự thảo Luật, đặc biệt là việc bổ sung điểm k vào sau điểm i khoản 2 Điều 40 với quy định: “Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý;…”. Đây là định hướng đúng đắn và cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Việc bổ sung quy định này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý gắn với xây dựng hành lang pháp lý cho quản trị số và tổ chức thực hiện trên môi trường điện tử. Hoạt động trợ giúp pháp lý cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái “trợ giúp pháp lý số” toàn diện, không chỉ dừng lại ở số hóa hồ sơ, văn bản.

Từ quy định này, thực tiễn phát sinh nhiều yêu cầu mới như: triển khai thủ tục hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý ở mức độ trực tuyến toàn trình; tích hợp thông tin trợ giúp pháp lý vào các nền tảng số để người dân dễ tiếp cận, xác nhận đối tượng; từng bước phát triển các hình thức trợ giúp pháp lý trên môi trường số. Những nội dung này phù hợp với định hướng của Quyết định số 749/QĐ-TTg về chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi, tạo điều kiện thuận lợi trong triển khai thực hiện, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi đề nghị bổ sung quy định giao “Chính phủ quy định chi tiết nội dung này”, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để công nghệ thông tin, chuyển đổi số thực sự trở thành nguồn lực mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới.

Cuối cùng, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi nhấn mạnh, các điều chỉnh trong dự thảo Luật không chỉ mở rộng quyền tiếp cận pháp lý cho người dân mà còn hướng tới xây dựng hệ thống trợ giúp pháp lý hiện đại, chuyên nghiệp, linh hoạt, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn tại các địa phương.

Kim Ngân

 

 

 

Đường dây nóng: 0909645589.

Phóng sự ảnh