Chiều 26/11, tại phiên thảo luận Hội trường, đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn- Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long tham gia thảo luận nội dung dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế.
![]() |
| Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn tham gia thảo luận hội trường. |
Đại biểu Trần Quốc Tuấn cho biết, trong bối cảnh vị thế quốc gia ngày càng được củng cố, đặc biệt sau khi Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia, việc thể chế hóa kịp thời Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới là yêu cầu mang tính chiến lược, nhằm tạo nên khuôn khổ pháp lý đủ mạnh để kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, đồng thời tận dụng tối đa những cơ hội từ hội nhập quốc tế để phục vụ phát triển đất nước.
Sau khi nghiên cứu Báo cáo số 8467 của Bộ Ngoại giao về giải trình, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế, đại biểu đánh giá cao tinh thần cầu thị, nỗ lực tiếp thu của cơ quan soạn thảo. Tuy nhiên, để góp phần hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, đại biểu xin tham gia thảo luận hai vấn đề cốt lõi, để cơ quan soạn thảo nghiên cứu như sau:
Vấn đề thứ nhất, tại Điều 8 dự thảo Nghị quyết quy định về thời hạn áp dụng cơ chế đặc thù, xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các dự án hợp tác với các đối tác nước ngoài có tính chất trọng điểm, chiến lược.
Tại Điều 8 dự thảo Nghị quyết đã được cơ quan soạn thảo dự kiến tiếp thu tại Báo cáo số 8467 của Bộ Ngoại giao theo hướng “Chính phủ quyết định các biện pháp, chính sách xử lý để tháo gỡ vướng mắc về luật pháp thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội”, đồng thời, Báo cáo số 8467 cũng đề nghị giữ nguyên hiệu lực của Nghị quyết này đến hết ngày 31/12/2030 với lý do cần đủ thời gian kiểm nghiệm hiệu quả của quy định có tính đặc thù này. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng nội dung giải trình này chưa thật sự an tâm, đại biểu nêu ba lý do để cơ quan soạn thảo nghiên cứu, như sau:
Một là, về nguyên tắc Nhà nước pháp quyền: Cơ chế đặc thù, về bản chất, là trường hợp ngoại lệ của pháp luật nếu ngoại lệ càng kéo dài thì khả năng sẽ xảy ra những rủi ro về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Một cơ chế cho phép Chính phủ quyết định các biện pháp, chính sách xử lý để tháo gỡ vướng mắc về pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội… kéo dài tới 5 năm (đến hết năm 2030) là quá dài và vượt quá mức cần thiết của một giai đoạn thí điểm.
Hai là, về yêu cầu luật hóa: Mục tiêu không phải là duy trì cơ chế đặc thù dài hạn mà là tư duy dự báo và phát hiện vấn đề để sửa Luật gốc. Việc rút ngắn thời gian áp dụng cơ chế đặc thù là cần thiết để Chính phủ khẩn trương tổng kết, đánh giá những gì đã chín, đã rõ, đã hiệu quả thì phải được luật hóa ngay trong hệ thống luật chung, thay vì tiếp tục dựa vào cơ chế đặc thù này.
Ba là, về kiểm soát quyền lực: Việc rút ngắn thời gian áp dụng cơ chế đặc thù sẽ giúp Quốc hội phát huy tốt hơn chức năng giám sát tối cao và mốc thời gian hợp lý nhất là đến giữa năm 2028, khi Quốc hội khóa XVI tiến hành sơ kết giữa nhiệm kỳ. Đây là thời điểm thích hợp để xem xét, đánh giá toàn diện việc vận hành cơ chế đặc thù để từ đó quyết định có nên tiếp tục áp dụng hay không? Đó cũng chính là bước đi thận trọng, thể hiện trách nhiệm của Quốc hội là cơ quan lập pháp.
Từ những phân tích trên, đại biểu kiến nghị Quốc hội cân nhắc điều chỉnh thời hạn áp dụng cơ chế đặc thù Nghị quyết này đến giữa năm 2028, thay vì duy trì đến hết năm 2030 như dự thảo đang trình.
Vấn đề thứ hai, tại khoản 2 Điều 17 dự thảo Nghị quyết quy định về kinh phí cho công tác đối ngoại biên giới.
Dự thảo Nghị quyết quy định “Nhiệm vụ sửa chữa mốc quốc giới hư hỏng, xây mới mốc quốc giới bị cuốn trôi hoặc không thể sửa chữa, kè bảo vệ đường biên giới, mốc quốc gia có thể được sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí thường xuyên của địa phương theo quy định của Chính phủ”. Theo đại biểu, quy định này có một số ý kiến đại biểu Quốc hội chưa đồng tình trong phiên thảo luận tại Tổ, tuy nhiên, trong báo cáo giải trình, cơ quan soạn thảo nêu quy định như thế sẽ tạo ra “cơ chế linh hoạt” cho các địa phương chủ động xử lý các vấn đề khẩn cấp. Đại biểu cho rằng lý giải này chưa có tính thuyết phục cao, đặc biệt là đối với các địa phương có đường biên giới, cụ thể là:
Về mặt pháp lý: Hệ thống mốc biên giới quốc gia và kè bảo vệ đường biên giới là tài sản đặc biệt, là biểu tượng vật chất của chủ quyền quốc gia. Việc bảo vệ quyền chủ quyền là nhiệm vụ chi của ngân sách Trung ương, không phải là nhiệm vụ chi thường xuyên của địa phương. Việc xác định địa phương “tự cân đối ngân sách” để thực hiện nhiệm vụ này là chưa phù hợp với nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh.
Về thực tiễn: Hầu hết các tỉnh biên giới nước ta đều là những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, đời sống người dân vùng biên giới còn những khó khăn nhất định. Do vậy, khi triển khai thực tế thì “cơ chế linh hoạt” như giải trình của cơ quan soạn thảo có thể sẽ trở thành “cơ chế khoán trách nhiệm” cho địa phương.
Ngoài ra, trong các trường hợp bất khả kháng, khi xảy ra thiên tai, bão lũ làm hư hỏng hoặc cuốn trôi các mốc giới, nếu địa phương không còn nguồn ngân sách dự phòng, sẽ dẫn đến chậm trễ trong việc bảo vệ và khôi phục đường biên giới, đây là điều Quốc hội cần đặc biệt quan tâm. Do đó, đại biểu kiến nghị Quốc hội cần nghiên cứu điều chỉnh khoản 2 Điều 17 dự thảo Nghị quyết theo hướng “Quy định rõ ngân sách Trung ương bảo đảm 100% kinh phí (có thể bổ sung có mục tiêu) cho công tác xây dựng, sửa chữa, bảo vệ các mốc biên giới quốc gia”. Việc quy định như thế không chỉ là vấn đề ngân sách mà còn là cam kết chính trị của Quốc hội đối với lãnh thổ quốc gia.
Đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh, Nghị quyết này được ví như “chiếc áo mới” cho công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế để đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ. Để chiếc áo vừa vặn và chắc chắn, đại biểu cũng như nhiều đại biểu Quốc hội khác mong muốn những điều kiện về nguồn lực được phân cấp cho địa phương phải thực chất và những quy định về trao quyền lập pháp phải đi kèm với kiểm soát chặt chẽ. Như vậy, các nội dung quy định của Nghị quyết đặc thù này mới thực sự trở thành động lực hỗ trợ địa phương triển khai thực hiện hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp vươn xa và giữ vững chủ quyền quốc gia.
|
Tại phiên thảo luận, thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trân trọng cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã quan tâm và tham gia đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc để giúp hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế. Đối với ý kiến liên quan tới nội dung thời hạn áp dụng cơ chế đặc thù, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thống nhất cao với đề xuất của đại biểu Quốc hội Trần Quốc Tuấn cho phép kéo dài đến giữa năm 2028 thay vì đến hết ngày 31/12/2030 như dự thảo Nghị quyết đang trình, vì đây là mốc thời gian sơ kết giữa nhiệm kỳ và cũng hoàn toàn phù hợp để đánh giá toàn diện việc vận hành cơ chế đặc thù đã thật sự mang lại hiệu quả như thế nào trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế. |
YẾN NHƯ (ghi)



Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin